Ta thường nghe nói: “Người nầy có nhân, người kia bất nhân” và câu “Vi nhân bất phú vi phú bất nhân”.
Người nhân là người có lòng thiện, hay giúp đỡ người, hoặc cho tiền bạc, cơm áo kẻ nghèo, hoặc thí thuốc cho người đau ốm, cứu trợ kẻ lâm nàn, tha-thứ người lầm lỗi, tìm phương an-ủi kẻ thất-chí buồn rầu.
Người bất nhân là người bất thiện, chỉ biết lo cho một mình mình mà thôi, tham lam lấy của người làm của mình, miễn mình được sung sướng ấm no, trối kệ ai nghèo đói khổ cực. Người bất nhân có trăm mưu ngàn kế để thỏa mãn dục vọng, không có việc gì bất thiện mà không dám làm, hể thấy có lợi thì làm không kể việc ấy có hại cho kẻ khác. Vì vậy người bất nhân là người có hại cho nhơn quần xã-hội.
Cũng vì những lẽ trên đây mà kẻ làm nhân thì không giàu, kẻ làm giàu thì không có nhân.
Những người hay chuốt trau lời nói, giả nhân, giả nghĩa, làm cho ai cũng muốn nghe, những người hay sửa bóng dáng trang sức bên ngoài, che dấu nết xấu bên trong, những hạng người ấy khó mà nói nhân với họ.
Còn những người chất phác mộc mạc, tuy bề ngoài hình như quê mùa dốt nát, mấy người ấy có thể dắt họ đi đến nhân được, vì họ sẵn gần nhân rồi.
Nghĩa chữ nhân của Khổng-Giáo rất lớn, nó bao trùm cả công việc của một đời người, liên quan đến thiên-hạ quốc-gia. Thời-đại nào, chốn nào, lúc nào, việc nào cũng có công-dụng chữ nhân.
Các môn đệ hỏi làm việc nhân, thì Đức Khổng-Tử tùy sở kiến văn của mỗi người, tùy địa vị xã-hội của mỗi người, tùy bản lĩnh của mỗi người, giảng dạy khác nhau bằng trăm đường ngàn lối, chung một mục đích để đi đến làm việc nhân. Thầy Nhan-Hồi thiên về đường đức hạnh hỏi nhân Ngài dạy: “Tự mầy sửa mình, bỏ nhân dục trở về với thiên-lý” Mắt không trông thấy điều phi-lễ, lỡ có thấy thì đừng mơ mộng nghĩ tới, tai có nghe điều phi lễ thì bỏ lãng, biết điều nào quấy thì miệng đừng nói ra; của chẳng phải thì đừng nhận; việc nào chẳng phải lễ thì đừng làm. Trừ bỏ được nhân dục, công phu làm nhân đã thành, thiên-lý hiện ra, đó làm nhân rồi vậy.
Thầy Tử-Cống cầu xin Đức Khổng-Tử dạy cho một chữ để xử dụng trọn đời. Đức Khổng-Tử bảo rằng chỉ có chữ “thứ” đó chăng? Mầy muốn người ta đừng làm điều ấy cho mầy thì mầy đừng lấy điều ấy mà đối đãi cho người ta.
Chữ thứ nầy Đức Khổng-Tử cũng dạy thầy Trọng-Cung thiên về việc làm nhân trong quốc-gia xã-hội. Đức Khổng-Tử bảo rằng: Việc làm nhân trong xã-hội rộng quá, nói không cùng, ta chỉ bảo mầy chữ “Kỉnh” và chữ “Thứ” mà thôi. Khi bước ra cửa, mầy phải cẩn thận như gặp người khách lớn, khi xử-dụng đến dân, mầy phải trang nghiêm như vào đám tế lớn. Đó là về phần chữ Kỉnh. Mầy muốn người ta đừng làm việc ấy cho mầy thì mầy đừng đem việc ấy làm cho người ta. Đó là chữ “Thứ”.
Nghĩa chữ Thứ, tuy không giống hẳn nghĩa chữ nhân, nhưng việc xử sự ở đời, dùng chữ thứ là làm theo lẽ phải nên không mấy khác chữ nhân.
Phàn-trì hỏi nhân, Ngài bảo: “Yêu người” Vì Phàn-trì có tánh hơi nặng về phần tự tư tự lợi. Đức Thánh e Thầy chỉ chăm lợi kỷ mà không lo lợi tha, nên nhơn dịp Thầy vấn nhân, Ngài dạy: “Yêu người”.
Thầy Tử-trương có chí về mặt chánh-trị, hỏi nhân. Đức Thánh phát minh 5 điều là: “Cung, khoan, tín, mẫn, huệ”.
1.- Cung là kính cẩn mà có ý nghiêm trang.
2.- Khoan là độ lượng rộng rải, làm việc một cách khoan thai và nhẹ nhàn.
3.- Tín là lấy tấm lòng tín thành mà ra lịnh chắc chắn.
4.- Mẫn là siêng-năng cần mẫn, gặp việc gì cũng giải quyết cho mau chóng.
5.- Huệ là lấy lòng nhân ái mà ở với nhơn dân, nặng về phần ân huệ.
Mình có cung thì người không khinh lờn; có khoan thì được lòng dân phục; có tín thì người cộng sự với mình tin vui làm việc cho mình; có mẫn thì làm việc gì cũng được thành tựu; có huệ thì người mang ơn mình mà mình dễ xử-dụng họ.
Xưa vua Nghiêu, vua Thuấn là vua có nhân, lấy điều nhân mà dạy thiên-hạ, thì nhân-dân đua nhau làm nhân, vì nhứt gia nhân, nhứt quốc hưng nhân. Nhứt gia đây là trỏ vào vị nguyên-thủ là người có quyền cầm vận mạng một nước như Vua, Tổng-Thống, hoặc Quốc-Trưởng. Việc làm của vị Nguyên-thủ có ảnh hưởng đến nhân dân rất nhiều. Vị Nguyên-thủ có nhân biết thương dân lo cho dân đủ mọi phương-diện, lấy tiền của dân đóng góp làm lợi dân, biết muốn cái muốn của dân, biết ghét cái ghét của dân, thì dân mới mến phục, sùng bái, sẵn sàng bảo an tổ-quốc giang-san. Trái lại vị Nguyên-thủ nào tham tàn, độc ác, nút máu nhơn dân, dụng hà chánh mà trị dân, dân sợ như sợ thú dữ, lòng dân oán ghét, đụng trong nước có biến, lấy ai mà bảo vệ quốc-gia thủy-thổ. Cái cơ tồn vong của nước là thế, do vị Nguyên-thủ nhân, hay bất nhân.
Nghĩa chữ nhân quá rộng lớn, bản thể chữ nhân rất tinh vi, công-dụng chữ nhân thì sâu rộng vô cùng, khó mà diễn tả hết cho được. Xin quí độc giả hiểu chữ nhân là cái lý sở dĩ làm người mà thôi.
Nhân là cái đức tốt ở trong lòng người có sẵn, chính là cái chơn-lý để làm người vậy, vì nhân giã, nhân giã.